Thứ Hai, Ngày 18/01/2021
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 8.530.167
Tổng số Thành viên: 29
Số người đang xem:  25

Nhà Luật học tài ba, Nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trường và câu chuyện của hậu thế

Đăng ngày: 18/04/2013 08:00
Nhà Luật học tài ba, Nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trường và câu chuyện của hậu thế
Theo pháp lý online

Nhà chí sĩ yêu nước

234 Nhà Luật học tài ba, Nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trường và câu chuyện của hậu thế

Nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trường – Vị tiến sĩ Luật học đầu tiên của Việt Nam

Phan Văn Trường sinh ngày 25/9/1876  (tức ngày 7/8 năm Bính Tý) tại làng Đông Ngạc – Hà nội, nay là thôn Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng; dòng họ của ông có nhiều người học giỏi, đỗ cao như: Phan Phu Tiên (tiến sĩ năm 1396), Phan Vinh Phúc (đỗ tam giáp đồng Tiến sĩ năm 1685), Phan Lê Phiên (đỗ tam giáp đồng Tiến sĩ năm 1757). Ngay từ nhỏ, ông đã học chữ Hán, sau đó chuyển sang học chữ quốc ngữ rồi chữ Pháp. Ông nổi tiếng thông minh và chăm chỉ. Sau khi tốt nghiệp trường Thông Ngôn ở Hà Nội, Phan Văn Trường đã làm thông ngôn ở văn phòng Phủ thống đốc sứ Bắc Kỳ một thời gian. Trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội, Phan Văn Trường cùng hai người anh của ông là: Phan Tuấn Phong và Phan Trọng Kiên mở một trường dạy học ngay tại làng Đông Ngạc quê hương ông. Trường có trụ sở tại chùa Tư Khánh do cử nhân Hoàng Tăng Bí đứng đầu.

Tháng 11/1908, thực dân Pháp đã đóng cửa trường và cho bắt giam những người hoạt động tích cực cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, trong đó có ông và hai người anh của ông là Phan Tuấn Phong và Phan Trọng Kiên. Tuy nhiên, do không đủ lý do buộc tội, thực dân Pháp đành phải trả tự do cho một số nhà chí sĩ trong đó có Lương Văn Can, một số người khác và ba anh em họ Phan.
Cuối năm đó ông sang Pháp rồi xin vào làm giảng viên ôn tập tiếng Việt trường Ngôn ngữ phương Đông đồng thời tranh thủ thời gian học thêm về luật và văn chương. Từ năm 1910, ông sống tại một căn phòng trong nhà số 6 phố Villa des Gobelins với tiền thuê mỗi năm là 750 franc. Về sau, ngôi nhà này thành điểm gặp gỡ của những ng-ười Việt Nam yêu nư¬ớc tại Pháp. Năm 1912, ông ghi tên vào đoàn luật sư Paris và hành nghề tại Tòa thượng thẩm Paris được chủ nhiệm đoàn Henry Robert hết sức kính trọng về tài năng. Cũng tại ngôi nhà số 6 phố Villa des Gobelins này, Phan Văn Trường cùng Phan Chu Trinh đã thành lập “Hội đồng bào thân ái” để tập hợp những người Việt Nam có tinh thần yêu nước đang sinh sống và học tập tại Pháp. Hoạt động của hội tuy không có chương trình điều lệ gì nhưng nó đã gây ra sự chú ý đối với thực dân Pháp. Cùng với đó là vụ bạo động tháng 4/1913, tại Hà Nội làm chết hai quan t¬ư nhà binh Pháp. Hai ngư¬ời anh của Phan Văn Trư¬ờng tham gia vụ này, bị bắt và bị đày đi Côn Đảo. Phan Văn Tr¬ường, Phan Chu Trinh và các hoạt động của hội đã bị theo dõi giám sát chặt chẽ hơn. Năm 1914, ông bị đưa ra tòa án binh và bị buộc tội “âm mưu chính trị chống nước Pháp”, ông bị giam cho tới tháng 7/1915 dưới sự vận động của Hội Nhân quyền và những chính khách tiến bộ trong đảng Xã hội Pháp, ông cùng nhà chí sĩ Phan Chu Trinh được trả tự do.

Được biết Phan Văn Trường là một luật sư có tư tưởng tiến bộ, có tinh thần yêu nước lại sống ở Pháp nhiều năm thông qua Phan Châu Trinh – bạn hữu của cụ Nguyễn Sinh Sắc, nên ngay từ khi đặt chân đến Paris, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm gặp Phan Văn Trư¬ờng. Chính Phan Văn Trư¬ờng đã hỗ trợ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc diễn đạt những ý tưởng chính luận của Ng¬ười ra Pháp văn. Phan Văn Tr¬ường cũng là ng¬ười dịch sang Pháp văn những tư¬ t¬ưởng của Phan Chu Trinh.

Hội những người Việt nam yêu nước do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập lúc bấy giờ tại Paris chính là sản phẩm kế thừa Hội đồng bào thân ái do hai nhà chí sĩ Phan Văn Trường và Phan Chu Trinh thành lập trước đây, do vậy, sau khi ra đời, hội đã hoạt động rất mạnh ở Pháp. Chính phủ Pháp đã tổ chức một cơ quan tình báo đặc trách mà đứng đầu là tên Arnoux, giám đốc Sở mật thám toàn quyền Đông Dương phụ trách để theo dõi hoạt động của Hội, đặc biệt là hành tung của 3 nhà cách mạng sáng lập Hội: Phan Văn Trường, Nguyễn ái Quốc, Phan Chu Trinh. Mật thám Pháp gọi 3 ông là “những tên cộng sản khét tiếng – communistes notoires”. Báo cáo của Arnoux ghi nhận “Nguyễn Ái Quốc đã đến đúng lúc để cầm đầu phong trào Đông Dương và Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh vẫn là những người cộng tác chính, là cố vấn và phụ tá thường trực”.

Cuối năm 1919, Phan Văn Trường theo lời mời của luật sư Mouter đã sang vùng Rhur (vùng đất của Đức mà Pháp mới sát nhập lãnh thổ thuộc Đông bắc Pháp sau chiến tranh) để làm trạng sư trước Hội đồng quản sự tại Mayence.

Sau quãng thời gian hoạt động và học tập tại Pháp, ông quyết định về nước dùng những kiến thức mà mình đã tíếp thu được đấu tranh đòi quyền dân chủ cho những người đồng bào khốn khổ đang bị kìm kẹp dưới ách nô lệ của thực dân. Đầu năm 1924 Phan Văn Trường về đến Sài Gòn. Khi Phan Văn Trường về nước, thực dân Pháp lo ngại rằng ông sẽ là đầu mối liên lạc và tổ chức giữa những tên phiến loạn An Nam ở Pháp và người Đông Dương không theo Pháp . Mật thám đã báo cáo Toàn quyền Đông Dương để đề phòng.

Người chấp bút bản yêu sách 8 điều bằng tiếng Pháp thể hiện sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

Tháng 6/1919, Hội nghị hòa bình của các nước thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất họp tại Versaille, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị bản yêu sách 8 điều đòi các quyền tự do, dân chủ cho người dân nước thuộc địa. Bản yêu sách được viết bằng ba thứ tiếng Pháp, Hán, Việt kí dưới tên Nguyễn Ái Quốc – đại diện của Nhóm những người Việt Nam yêu nước, gửi cho đại biểu các nước đến tham dự Hội nghị, Nghị viện Pháp, báo chí và gửi cả về Việt Nam. Mặc dù bản yêu sách không được thực dân Pháp chấp nhận nhưng nó đã tạo tiếng vang lớn mà người Pháp gọi đó là một “quả bom”, thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia và cũng từ đó cái tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong sổ theo dõi đặc biệt của mật thám Pháp bên cạnh tên của nhà chí sĩ cách mạng Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường.

Gắn liền với sự kiện bản yêu sách 8 điều đó, nhiều người không biết được rằng nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trường chính là người chấp bút bằng tiếng Pháp tạo nên bản yêu sách đanh thép đó. Điều này đã đươc khẳng định trong cuốn sách “117 Chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Ban tuyên giáo trung ương. Khi trao đổi cùng cụ Phan Châu Trinh và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về việc ai đứng tên trong bản yêu sách 8 điều gửi tới hội nghị Versaille, nhà chí sĩ yêu nước đã từ chối đứng tên chịu trách nhiệm kí vào bản yêu sách như một sự khẳng định: ông chỉ là người chắp bút và sáng kiến là của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc do đó ông không thể đứng tên và cụ Phan Châu Trinh cũng không thể đứng tên. Nhân cách lớn lao của ông càng nhìn nhận rõ nét hơn khi ông khẳng định: người trí thức không được lấy công của người khác làm công của mình.

Mật thám Pháp lúc bấy giờ đã không có bất cứ báo cáo nào về mối liên hệ mang tính chính trị giữa Nguyễn Tất Thành và hai nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường. Mặc dù mật thám Pháp chỉ báo cáo “Nguyễn Ái Quốc tự mình soạn thảo những truyền đơn tuyên truyền như tờ truyền đơn nhan đề Những yêu sách của nhân dân An Nam đã được chuyển cho phòng Nghị viện”. Tuy nhiên có thể khẳng định đó là kết quả của sự đồng thuận giữa ba người: Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường bởi trong thời điểm bấy giờ bộ ba yêu nước này có sự gắn bó mật thiết và có cùng quan điểm với nhau trong việc củng cố, xây dựng phong trào chung của Hội nhằm đấu tranh cho quyền tự do dân chủ ở quê nhà. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong một cuốn sách của mình cũng viết “Lúc bấy giờ bộ ba Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành đang cộng tác, đùm bọc nhau rất gắn bó nên quyết định làm việc này chắc là của chung”.

Trong cuốn sách “Luật sư Phan Văn Trường” xuất bản năm 2011 do Giáo sư Nguyễn Phan Quang và Tiến sĩ Phan Văn Hoàng biên soạn cũng chỉ rõ: không khó để khẳng định người chấp bút cho bản yêu sách gửi đến hội nghị, báo chí, Nghị viện Pháp bằng tiếng Pháp là do Phan Văn Trường thực hiện. Sở dĩ như vậy là vì bản thân nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trường rất giỏi tiếng Pháp lại có quá trình sinh sống ở Pháp nhiều năm và am hiểu về pháp luật cũng như các văn bản pháp luật còn cụ Phan Châu Trinh thì không rành tiếng Pháp và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở thời điểm đó vẫn chưa viết được tiếng Pháp. Báo cáo của mật thám Jean ngày 3/11/1919 cũng cho rằng Nguyễn Ái Quốc “giỏi chữ Hán, còn tiếng Pháp thì ông chưa nắm được bao nhiêu” nên “ông Trường dạy anh học thêm tiếng Pháp”. Như vậy Phan Văn Trường là người chấp bút bản yêu sách 8 điều bằng tiếng Pháp và trên thực tế văn bản này mang đậm dấu ấn của ông với nhãn quan của một nhà luật học. Cụ thể là ở Điểm 2 nêu rõ: “Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam”.

Ngay sau khi bản yêu sách được gửi đi, nhiều tờ báo đã đăng nguyên văn nội dung của bản yêu sách, thậm chí một phóng viên người Mỹ ở Paris của tờ Yi Che Pao (xuất bản ở Thiên Tân – Trung Quốc) đã mời Nguyễn Ái Quốc và Phan Văn Trường đến để phỏng vấn.

Nhà Luật học – Nhà báo

Tài năng và trí tuệ của nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trường không chỉ thể hiện qua những đóng góp của ông vào những hoạt động chung của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Ông còn là một nhà luật học đặc biệt xuất sắc. Bằng tinh thần tích cực học hỏi và thực tế công việc tại Tòa thượng thẩm Paris, ông đã tích lũy cho mình những kiến thức luật từ chính quốc và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ luật học tại Đại học Sorbonne với đề tài nghiên cứu “Lược khảo về Bộ luật Gia Long”. Ngay sau đó, ông soạn tiếp cuốn Luật hình qua pháp chế cổ Trung hoa dày 194 trang. Hai cuốn sách nghiên cứu này đă được xuất bản tại Paris năm 1922 mà giá trị của nó được luật sư nổi tiếng Marius Mouter đánh giá là “luận án đặc sắc về luật bản xứ”.

Những kiến thức về pháp luật không chỉ giúp ông hỗ trợ tích cực về mặt pháp lý cho các hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mà còn giúp ông sử dụng làm vũ khí đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ cho người dân các nước thuộc địa trên mặt trận báo chí. Ngày 1/9/1922, tờ Le Paria ra số đầu và Phan Văn Trường đã viết rất nhiều bài cho báo để lên án chế độ thuộc địa, vạch trần chủ nghĩa đế quốc ở Á – Phi. Tuy nhiên sau mấy tháng hoạt động, tờ Le Paria lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, xuất bản khó khăn. Sau khi về nước năm 1924,  ông quyết định trở vào Sài Gòn, dùng báo chí làm vũ khí đấu tranh công khai theo tinh thần Đạo luật ngày 29/71891 do Quốc hội Pháp thông qua và được áp dụng từ 22/9/1891 ở Nam kỳ.
Tháng 6/1925, ông gặp lại nhà báo yêu nước Nguyễn An Ninh, chủ nhiệm tờ báo tiếng Pháp ở Sài Gòn, La Cloche félée (Tiếng chuông rè) . Tờ báo này xuất bản số 1 từ 10/12/1923 nhưng sau 19 số xuất bản, báo phải ngừng lại do thiếu tiền. Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường bàn nhau gây dựng lại tờ báo này do Phan Văn Trường chủ nhiệm.

Ngày 26/11/1925, số 23 báo “Tiếng chuông rè” lại ra mắt bạn đọc. Tờ báo liên tục cho ra các bài đả kích trò nguỵ biện xuyên tạc của viên toàn quyền Đông Dương, màn hài kịch của chế độ…. với nhiều hình thức phong phú như luận văn chính trị, tiểu thuyết, danh ngôn …nhằm tuyên truyền tinh thần yêu nước chống đế quốc. Đặc biệt từ số 53 ngày 29/3/1926 đến số 60 ngày 26/4/1926, báo liên tục đăng “Tuyên ngôn Đảng công sản” của Mác và Ănghen. Đây là lần đầu tiên, một tờ báo xứ thuộc địa dám in “Tuyên ngôn Đảng công sản” .

Chỉ ba ngày sau khi Tiếng chuông rè bị đình bản, Phan Văn Trường lại cho ra mắt tờ L’Annam (Nước nam) cũng xuất bản bằng tiếng Pháp. Đây là sự tiếp nối tờ Tiếng chuông rè vì trên số các số báo ông vẫn cho ghi là năm thứ ba. Trên đầu tờ L’Annam số 23 ngày 6/5/1926, ông có ghi câu bằng chữ Hán “ Dân vi quí, xă tắc thứ chi, quân vi khinh”. Về căn bản L’Annam là sự tiếp nối những bài chính luận phê phán đả kích từ “Tiếng chuông rè” mà Phan Văn Trường chính là chủ ngòi bút chiến.

Trước những hoạt động báo chí chống chế độ lúc bấy giờ của ông, tháng 7/1927, thực dân Pháp đã cho bắt giam ông và cho đóng cửa tờ L’Annam. Sau tám tháng giam giữ, ngày 27/3/1928, Phan Văn Trường bị Toà áo đỏ Sài Gòn kết án hai năm tù giam vì tội “Xui kích làm phản, kêu dân Việt nam nổi loạn để đuổi người Pháp ra khỏi xứ” và đưa ông sang Pháp ở tù. Thế nhưng xiềng xích thực dân, gông cùm nô lệ không đủ sức giam giữ tinh thần ý chí của nhà chí sĩ cách mạng kiên gan. Mãn hạn tù, ông lại về Việt Nam tìm gặp lại Nguyễn An Ninh ở Sài gòn để bàn việc tiếp tục xuất bản báo như tờ Tiếng chuông rè và tờ L’Annam. Thế nhưng ý định của nhà chí sĩ yêu nước đó đành phải bỏ dở.

Năm 1933, ông quay ra Hà Nội để thăm gia đình và thị sát tình hình chính trị ở Miền Bắc nhưng ông ngã bệnh và phải ở lại Hà Nội để điều trị. Khi bệnh thuyên giảm, ông lại khẩn trương lên đường vào Nam nhưng mới đến Đà Nẵng, bệnh lại tái phát và ông phải quay ra Hà nội và ở tại nhà anh trai là Phan Cao Luỹ (cùng với con của ông Luỹ) tại số 25 đường Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo) để điều trị nhưng do bệnh nặng không thể cứu chữa, ông đã qua đời ngày 22/4/1933 tại quê nhà.

Hậu thế vẫn còn nợ ông

Năm nay cũng là 85 năm kể từ ngày mất của cụ Phan Văn Trường, thế nhưng có lẽ hậu thế vẫn còn nợ cụ những điều chưa trả. Có thể “tiếng tăm” của cụ không nổi như cụ Phan Châu Trinh hay lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc song những đóng góp của cụ xét về mặt lịch sử và quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc là điều không nhỏ. Ở một khía cạnh nào đó, vị thế của cụ vẫn chưa được khẳng định và chưa có sự trân trọng nhất định.

Trao đổi cùng vợ chồng ông bà Phan Vĩnh Trị – Trịnh Phương Nga là cháu nội của cụ Phan Chí Thiện – Anh trai của cụ Phan Văn Trường, chúng tôi mới được biết hiện tại phần mộ của cụ Phan Văn Trường và các anh em của cụ hiện đều cùng nằm ở một khu vực trong làng Đông Ngạc. Việc trông coi phần mộ các cụ phải nhờ đến một người họ Phan (họ hàng xa) trông nom. Còn vợ chồng ông bà hiện là những người gần họ nhất chịu trách nhiệm chính chăm sóc mộ phần các cụ. Theo bà Nga thì các cụ thân sinh kể lại rằng cụ Phan Văn Trường sau khi sang Pháp lấy một người phụ nữ Pháp làm vợ và đã có với nhau một người con trai đặt tên là Robert Phan. Nhưng kể từ khi cụ về nước và mất cho đến nay thì không thấy con của cụ về. Do sự biến thiên của lịch sử nên cho đến nay cũng không thấy con cháu của các anh em cụ Phan Văn Trường về thăm, bản thân gia đình cũng không bất kì liên lạc nào.

Tuy nhiên theo quan sát của chúng tôi, phần mộ của các cụ trong gia đình cụ Phan Văn Trường nằm tách biệt nhau xen kẽ san sát giữa một vài ngôi nhà. Được biết, mảnh đất này là mảnh đất cụ cả Phan Cao Lũy đã mua để làm thờ tự, an táng cho người trong nhà, còn những ngôi nhà mọc xen kẽ giữa những phần mộ của các cụ chính là nhà của các con một người họ Phan (họ hàng xa) – người được giao ở gần chăm lo phần mộ các cụ. Nhìn không gian xung quanh ngôi mộ của nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trường bị thu hẹp làm chỗ xây cất nhà cửa cho thấy rõ ràng có một sự thiếu tôn trọng của những người xung quanh và cả sự thiếu quan tâm của chính quyền địa phương. Sự thiếu tôn trọng và thiếu quan tâm đó cũng xuất phát từ việc chúng ta chưa có một cái nhìn lịch sử đối với đóng góp của cụ, chưa khẳng định rõ vai trò lớn lao của cụ đối với đất nước. Ngôi mộ được xây từ sau khi cụ mất đã được sửa sang lại nhiều lần nhưng xét về tầm vóc cống hiến cho đất nước của cụ rõ ràng nó quá nhỏ bé nếu không nói là đang bị lãng quên. Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần phải “Trả lại cho Phan những gì của Phan”.

Phạm Thành

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn