Thứ Năm, Ngày 21/01/2021
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 8.533.992
Tổng số Thành viên: 29
Số người đang xem:  8

Pháp luật hình sự và những vấn đề doanh nghiệp quan tâm

Đăng ngày: 20/06/2012 11:48
Pháp luật hình sự và những vấn đề doanh nghiệp quan tâm
Theo liendoanluatsu.org.vn

Về pháp luật hình sự hiện nay, có một vấn đề đang thu hút được sự chú ý, quan tâm không chỉ của các doanh nghiệp mà của cả các cơ quan chức năng, dư luận đó chính là tình trạng hình sự hóa các giao dịch dân sự - kinh tế.

Vậy việc hình sự hóa các giao dịch dân sự - kinh tế được hiểu như nào?

Hiện nay đang có rất nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về khái niệm hình sự hóa giao dịch dân sự - kinh tế nhưng về bản chất thì có thể hiểu đó là hiện tượng các cơ quan tiến hành tố tụng (đặc biệt là cơ quan điều tra) lạm dụng quy định của pháp luật hình sự để giải quyết các giao dịch dân sự - kinh tế hay nói cách khác đó chính là việc định tội sai.

Chính vì vậy, việc các giao dịch dân sự - kinh tế bị hình sự hóa để lại rất nhiều hậu quả tiêu cực:

Thứ nhất:Hậu quả đầu tiên và dễ nhận thấy nhất của việc hình sự hóa quan hệ kinh tế chính là xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có hành vi bị hình sự hóa.

Thông thường các giao dịch kinh tế có giá trị kinh tế lớn (vài tỷ đến vài trăm tỷ đồng)  nên hầu hết các vụ án bị hình sự hóa, các cơ quan tiến hành tố tụng đều áp dụng biện pháp cưỡng chế như: tạm giữ, tạm giam, kê biên, niêm phong tài sản...

Đối với việc tạm giữ, tạm giam không chỉ xâm hại đến quyền nhân thân: quyền tự do, dân chủ của công dân mà còn gây ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý, uy tín của họ và gia đình, đồng nghiệp. Mặt khác, nếu họ là người đại diện, quản lý của doanh nghiệp thì việc tạm giữ, tạm giam họ còn gây ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động kinh doanh của đơn vị đó. Thực tế cho thấy, có rất nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng có nguy cơ bị phá sản do người đứng đầu doanh nghiệp bị bắt tạm giam trong các vụ án “bị hình sự hóa”, người lao động trong doanh nghiệp đứng trước nguy cơ bị thất nghiệp... hoặc cũng phải mất một thời gian rất lâu mới có thể khôi phục lại tình trạng hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

Còn đối với biện pháp kê biên, niêm phong tài sản cũng gây thiệt hại không kém trong trường hợp vụ án bị “hình sự hoá”. Khi đó, tài sản của người có hành vi bị “hình sự hoá” hoặc doanh nghiệp (có khi lên đến hàng chục tỷ đồng) sẽ không được đưa vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Điều đó không chỉ gây thiệt hại đến lợi ích vật chất của những người có liên quan mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của toàn xã hội.

Đối với những thiệt hại nói trên thì việc đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại cho các doanh nghiệp hay người có hành vi bị hình sự hoá rất khó để bù đắp đúng mức.

Thứ hai:Hình sự hóa sẽ gây tác động xấu đến môi trường đầu tư:

Bên cạnh đó, “hình sự hoá” còn có tác động xấu đến môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam bởi vì không chỉ có những doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam bị “hình sự hoá” mà cả các doanh nhân, doanh nghiệp nước ngoài cũng gặp phải tình trạng này. Những vụ án bị “hình sự hoá” sẽ là tấm gương xấu ảnh hưởng đến tâm lý của những người có ý định đầu tư vào Việt Nam, nhất là các dự án lớn, dài hạn, rủi ro cao nhưng có tính chất quan trọng, quyết định đến sự phát triển của đất nước như trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Đối với các doanh nhân, doanh nghiệp đang hoạt động thì không dám mạo hiểm, chấp nhận rủi ro để tìm tới những bước đột phá, tạo động lực cho nền kinh tế mà chỉ hoạt động cầm chừng, chấp nhận hiệu quả thấp nhưng an toàn hơn. Trong trường hợp họ có gặp rủi ro do khách quan cũng không dám “báo cáo” lỗ vì sợ mình trở thành đối tượng bị “hình sự hoá”.

Thứ ba:Làm giảm lòng tin của nhân dân vào nền pháp chế nhà nước:

Về bản chất, “hình sự hoá” là việc làm oan, sai người vô tội. Tình trạng này khiến cho các cơ quan thực hành và bảo vệ pháp luật vốn là chỗ dựa của công dân, các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp thì nay lại trở thành người xâm hại đến lợi ích hợp pháp của họ. Điều này đã làm giảm sút rất nhiều niềm tin của nhân dân vào nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta.

Một vấn đề mà các doanh nghiệp rất quan tâm đó là những loại tội danh thường bị “hình sự hóa”?

Thực tế cho thấy, hành vi vi phạm bị đánh giá sai bản chất pháp lý và “hình sự hoá” thường là hành vi không trả được nợ (vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ).

Và một số loạitội danh thường áp dụng trong khi “hình sự hoá” là:

- Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 Bộ luật hình sự hiện hành);

- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 Bộ luật hình sự hiện hành);

- Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS hiện hành);

- Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 BLHS hiện hành).

Bởi vì do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hiện nay ở rất nhiều cơ quan, với rất nhiều cán bộ điều tra, những người áp dụng pháp luật vẫn còn tồn tại một quan điểm “rất nguy hiểm” và vô cùng sai lầm là: Nếu hết thời hạn nêu trong hợp đồng mà bên có nghĩa vụ không thanh toán được nợ thì bị xem là “chiếm đoạt”.

Hình sự hóa đã và đang gây nên những ảnh hưởng tiêu cực, những thiệt hại lớn về kinh tế cho các doanh nghiệp và thu hút được sự quan tâm đặc biệt từ dư luận. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này?

Nguyên nhân khách quan:

Cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế hiện nay chính là sự thiếu rõ ràng, minh bạch trong các quy phạm pháp luật về cấu thành tội phạm của pháp luật hình sự. Từ đó, dẫn đến việc nhận thức không thống nhất và áp dụng sai (tức là định tội sai) từ các cơ quan tiến hành tố tụng. Và sai lầm trong việc định tội danh chính là  “hình sự hóa”.

Nguyên nhân chủ quan:

* Từ phía các cơ quan, cán bộ thực thi pháp luật: Đó là trình độ, năng lực yếu kém hoặc do việc phẩm chất đạo đức kém dẫn đến việc vô ý hoặc cố tình nhận thức, đánh giá sai tính chất pháp lý các giao dịch kinh tế của các cơ quan tiến hành tố tụng và việc định tội sai. Ví dụ, đối với các loại tội danh có liên quan đến “chiếm đoạt tài sản” thì việc chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội là vô cùng quan trọng vì đây là dấu hiệu chủ quan bắt buộc của loại tội danh này. Như đã nêu trên đây là hiện nay còn tồn tại một quan điểm hết sức sai lầm về việc định nghĩa, chứng minh ý thức “chiếm đoạt tài sản” đó là “nếu hết thời hạn nêu trong hợp đồng mà bên có nghĩa vụ không thanh toán được nợ thì bị xem là “chiếm đoạt”. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng không xem xét một cách toàn diện, khách quan về giao dịch kinh tế thì rất dễ dẫn đến việc nhận thức và đánh giá sai bản chất pháp lý của các giao dịch đó.

* Từ chính các doanh nghiệp, doanh nhân: Do thiếu kiến thức cơ bản về pháp luật kinh doanh hoặc do một số nguyên nhân nào đó mà các doanh nghiệp đã giao kết Hợp đồng kinh tế với các điều khoản không rõ ràng, đặc biệt là các điều khoản thanh toán và các chế tài xử lý liên quan, dẫn đến việc quá trình thực hiện Hợp đồng gặp khó khăn khi một bên có hành vi vi phạm Hợp đồng. Vì vậy, có rất nhiều doanh nghiệp chủ nợ do quá nôn nóng trong việc thu hồi nợ đã sử dụng biện pháp tố cáo doanh nghiệp con nợ về hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán của họ không đúng bản chất dẫn đến sự việc bị ‘hình sự hóa”, hoặc doanh nghiệp con nợ do không am hiểu pháp luật nên đã có những hành động dẫn đến việc bị cơ quan tiến hành tố tụng “hiểu nhầm” bản chất và đưa đến việc bị ‘hình sự hóa”.

Mặt khác, cũng do không hiểu biết pháp luật và do đặc điểm của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay đa số là các công ty gia đình hoặc do 1 cá nhân chiếm đa số vốn nên không ít trường hợp khi đối chiếu công nợ, cá nhân đó đứng ra nhận nợ về mình mà không tuân thủ các quy định của pháp luật doanh nghiệp. Không ít trong số đó khi Công ty của họ không thể thanh toán được nợ đã bị chủ nợ tố cáo dẫn đến việc bị “hình sự hóa”.

Vì vậy mà đấu tranh chống hình sự hóa không chỉ là nhiệm vụ của riêng doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước mà cần phải có sự kết hợp từ nhiều phía:

Về phía các cơ quan nhà nướcthì trước hết, cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại để có tách bạch, phân định rõ các tranh chấp kinh tế - dân sự và các hành vi vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm). Từ đó, có cơ chế giải quyết một cách phù hợp, đúng đắn nhất.

Thứ hai là cần phải đào tạo, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho những đối tượng áp dụng pháp luật trong cơ quan điều tra, truy tố, xét xử....hạn chế tối đa việc nhận thức thiếu chính xác, đánh giá sai bản chất sự việc để dẫn đến hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh tế, gây ra những hậu quả đáng tiếc cho doanh nghiệp, công dân.

Về phía các doanh nghiệpcần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế, tự trang bị kiến thức pháp luật hoặc nhờ Luật sư tư vấn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình, đặc biệt là trong trường hợp có dấu hiệu bị hình sự hóa.

Vai trò của Luật sư trong đấu tranh chống hình sự hóa:

Luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư là những đơn vị bổ trợ tư pháp với nhiệm vụ quan trọng là cùng với các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng, thực hiện và bảo vệ nền pháp chế nước nhà thông qua việc tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật và bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp.

Đối với nhiệm vụ đấu tranh chống hình sự hóa thì Luật sư giữ vai trò hết sức quan trọng. Trong các vụ án bị “hình sự hóa” thì bằng kiến thức và sự am hiểu pháp luật của mình, Luật sư sẽ có những kiến nghị, ý kiến mang tính chất đối lập để các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét một cách toàn diện, đúng đắn về bản chất của vụ việc. Mặt khác, việc có Luật sư tham gia vụ án cũng chính là lý do để các cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng, áp dụng đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Thông thường, trong vụ án bị hình sự hóa có sự tham gia của Luật sư thì quyền và lợi ích của doanh nghiệp cũng được đảm bảo hơn. Thực tế, có không ít trường hợp, nhờ có sự tư vấn, tham gia của Luật sư, các doanh nghiệp và người đứng đầu doanh nghiệp thoát khỏi việc bị “hình sự hóa”.

Vai trò của Luật sư trong đấu tranh chống hình sự hóa được thể hiện ngay từ khi các doanh nghiệp đàm phán, ký kết Hợp đồng với các đối tác. Việc nhờ Luật sư tư vấn pháp luật từ giai đoạn này sẽ giúp doanh nghiệp và đối tác lựa chọn được cách thức thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng đắn, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan, đến cả khi thực hiện Hợp đồng và lựa chọn cách thức giải quyết hành vi vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng. Không những thế, có Luật sư tư vấn, doanh nghiệp và lãnh đạo doanh nghiệp sẽ hiểu rõ và được cảnh báo về các dấu hiệu của tội phạm hình sự trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Luật sư cũng sẽ hướng dẫn cho doanh nghiệp cách thức trình bày, khai báo một cách phù hợp để tránh trường hợp bị cơ quan tiến hành tố tụng (điều tra) hiểu lầm về ngôn ngữ diễn đạt dẫn đến việc hiểu sai về bản chất, mục đích giao dịch kinh tế đã thực hiện với các đối tác. Hợp tác, liên kết với các Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư để được tư vấn pháp luật thường xuyên chính là phương án tốt nhất để các doanh nghiệp có thế tự bảo vệ mình trong việc chống hình sự hóa giao dịch kinh tế.

Và để thực hiện tốt các vai trò của mình trong việc đấu tranh chống hình sự hóa các giao dịch kinh tế - dân sự thì Luật sư phải không ngừng nâng cao trình độ, kiến thức và kỹ năng hành nghề của bản thân, thực hiện tốt việc tư vấn pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng cho thân chủ.

Luật sư: Hà Thị Thanh - Đoàn luật sư tỉnh Hưng Yên

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn