Thứ Hai, Ngày 18/01/2021
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 8.530.142
Tổng số Thành viên: 29
Số người đang xem:  23

Vẫn còn hình sự hóa quan hệ dân sự, thương mại

Đăng ngày: 03/10/2012 08:35
Vẫn còn hình sự hóa quan hệ dân sự, thương mại
Theo nguoibaovequyenloi.com

Vẫn còn hình sự hóa quan hệ dân sự, thương mại

Thay vì hướng dẫn doanh nghiệp khởi kiện, cơ quan tố tụng lại hình sự hóa một vụ việc vốn mang bản chất của tín dụng thương mại…

Trong đợt tập huấn toàn ngành kiểm sát vừa qua, VKSND Tối cao đã rút kinh nghiệm nhiều vụ án dân sự, kinh tế bị hình sự hóa. Một điểm chung từ các vụ việc này là chuyện cơ quan tố tụng nóng vội làm oan khi chưa xác định được yếu tố chiếm đoạt tài sản của đương sự…

Từ tháng 8-2005 đến tháng 12-2005, ông Lê Duy Nam (chủ cơ sở sản xuất rượu Duy Nam) đã nhiều lần vay của bà S. tổng cộng 375 triệu đồng. Theo thỏa thuận, lãi suất vay là 6%/tháng và đến đầu năm 2006, ông Nam sẽ trả cả lãi lẫn vốn.

Xác định sai hành vi chiếm đoạt

Sau đó ông Nam khất nợ, dùng giấy tờ đất của người khác thế chấp cho bà S., đồng thời làm hợp đồng chuyển nhượng 1.400 m2 đất của ông (đã đem thế chấp ngân hàng) để cấn nợ. Phát hiện, bà S. tố cáo. Ông Nam bị khởi tố, bắt tạm giam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Khi tòa sơ thẩm đưa ông Nam ra xét xử hồi tháng 11-2007, đại diện VKS đã đề nghị phạt ông từ bảy năm đến tám năm tù. Tuy nhiên, tòa đã tuyên ông Nam không phạm tội. Sau đó, VKS kháng nghị nhưng đã bị tòa phúc thẩm bác.

Theo VKSND Tối cao, trong vụ này, dù ông Nam không thực hiện cam kết trả nợ đúng hạn, có những hành vi gian dối nhất định trong việc khất nợ như lấy tài sản của người khác thế chấp và đem tài sản đã thế chấp ngân hàng cấn nợ. Tuy nhiên, các hành vi đó chỉ nhằm giãn nợ, hoãn thời gian trả nợ. Hợp đồng vay mượn nợ giữa ông Nam và bà S. là giao dịch dân sự. Ông Nam luôn thừa nhận nợ, chỉ khi không trả nợ thì hai bên mới phát sinh tranh chấp, đến UBND phường hòa giải và thỏa thuận phương thức trả nợ. Như vậy không có căn cứ xác định ông Nam chiếm đoạt tiền của bà S.

 Chưa đến hạn trả nợ, vẫn bắt

Bà Nguyễn Thị Luấn là giám đốc Công ty TNHH Gia Bảo. Năm 2006, thông qua việc chuyển nhượng trái phép đất trồng rừng, bà Luấn đã nhận của bốn người 960 triệu đồng nên bị khởi tố, truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử sơ thẩm lần đầu, tòa cho rằng chỉ đủ căn cứ xác định bà Luấn dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo một người để chiếm đoạt 330 triệu đồng. Với ba nạn nhân còn lại, theo tòa, bà Luấn đã có thỏa thuận với họ là giải quyết tranh chấp tại tòa nên không đủ căn cứ chứng minh bà có hành vi gian dối chiếm đoạt 630 triệu đồng của họ. Từ đó, tòa phạt bà Luấn tám năm tù.

VKS kháng nghị yêu cầu Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng xét xử bà Luấn theo hướng chiếm đoạt tài sản của cả bốn nạn nhân và tăng hình phạt. Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm, đại diện VKS đã phải rút toàn bộ kháng nghị bởi có đủ căn cứ kết luận việc bà Luấn nợ ba nạn nhân 630 triệu đồng là giao dịch dân sự, đang được giải quyết bằng vụ án dân sự.

Theo VKSND Tối cao, trong vụ án, chưa đến thời hạn bà Luấn thực hiện việc cam kết trả nợ thì công an đã khởi tố, bắt giam khiến bà Luấn không thể thực hiện cam kết. Việc truy tố bà Luấn trong trường hợp này là không có căn cứ.

Khởi tố để đòi nợ giùm

Ông Mai Thanh Trúc là giám đốc Trung tâm Kinh doanh dụng cụ vật tư chuyên ngành thuộc Công ty Cổ phần Dụng cụ số 1 (Hà Nội), có con dấu riêng, tự hạch toán, chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Trong quá trình làm ăn, ông đã mua chịu hàng của năm công ty với số tiền gần 650 triệu đồng, đã trả được gần 400 triệu đồng. Sau đó ông mất khả năng thanh toán và bị khởi tố. Đến tháng 10-2007, sau khi ông trả hết số nợ còn lại, VKS mới đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra đối với ông.

VKSND Tối cao nhận xét việc nợ tiền hàng của ông Trúc là do kinh doanh thua lỗ nên mua hàng theo phương thức trả chậm của một số nơi. Lẽ ra khi ông Trúc mất khả năng thanh toán, chủ nợ có quyền yêu cầu tòa tuyên bố phá sản hoặc kiện đòi nợ nhưng lại đề nghị các cơ quan tố tụng… thu hộ nợ. Thay vì hướng dẫn doanh nghiệp khởi kiện thì cơ quan tố tụng lại hình sự hóa một vụ việc vốn mang bản chất của tín dụng thương mại.

Tương tự, cuối năm 2007, ông Nguyễn Hoàng Hà ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng lô đất hơn 4.000 m2 cho Công ty Cổ phần Thái Dương với giá hơn 43 tỉ đồng. Theo đó, Công ty Thái Dương sẽ đặt cọc 20 tỉ đồng. Hết hạn đặt cọc, Công ty Thái Dương chỉ mới chuyển được một phần tiền. Sau đó hai bên tranh chấp và Công ty Thái Dương đã khởi kiện ra tòa.

Tháng 2-2008, phía Công ty Thái Dương lại tố tới công an rằng ông Hà chiếm đoạt tiền đặt cọc của công ty. Vì thế, vụ kiện dân sự giữa đôi bên được tòa đình chỉ giải quyết. Đến tháng 6-2009, ông Hà bị VKS truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 4 Điều 139 BLHS. Xử sơ thẩm, tòa đã tuyên ông Hà không phạm tội.

VKSND Tối cao nhận xét: Theo hợp đồng đặt cọc thì phương thức giải quyết tranh chấp giữa hai bên là trên cơ sở thương lượng. Khi không thương lượng được thì đưa ra tòa giải quyết, phán quyết của tòa có giá trị cuối cùng, buộc hai bên phải thi hành. Như vậy mấu chốt của vụ án là hợp đồng đặt cọc có sự vi phạm hay không. Đây là quan hệ do pháp luật dân sự điều chỉnh chứ không phải pháp luật hình sự. Thực tế trước khi vụ việc bị hình sự hóa, tòa cũng đã thụ lý và đang giải quyết việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc này.

Xuất khẩu lao động: Phải phân biệt đồng phạm

Theo VKSND Tối cao, thời gian qua đã xuất hiện nhiều vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Trong các vụ việc này thường hình thành các đường dây lừa đảo người lao động với nhiều đầu mối trung gian thu gom lao động khác nhau. Khi xem xét, có những đầu mối thu gom người lao động là đồng phạm với kẻ chủ mưu thực hiện hành vi lừa đảo nhưng cũng có những đầu mối chỉ là nạn nhân.

Ngành kiểm sát rút kinh nghiệm rằng để xem xét những người thu gom lao động này có phạm tội lừa đảo hay không thì ngoài yếu tố gian dối, phải chứng minh họ có mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt tài sản của người lao động.

Phải thận trọng

Theo tôi, chỉ khi chứng minh, xác định được lỗi của người thực hiện hành vi chiếm đoạt là cố ý trực tiếp và với mục đích tư lợi thì mới nên xử lý hình sự họ. Còn trong lĩnh vực tín dụng, vay mượn tài sản, không thể coi là chiếm đoạt nếu cơ quan điều tra không chứng minh được các yếu tố sau: cố ý không trả nợ dù có khả năng trả hoặc có hành vi tẩu tán tài sản nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ; bỏ trốn để chiếm đoạt.

Một thẩm phán Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM

Định rõ ranh giới

Các cơ quan tố tụng cần ngồi lại nhìn nhận vấn đề là làm sao để hạn chế được tình trạng hình sự hóa các quan hệ dân sự, thương mại như hiện nay. Cần xác định có ranh giới rõ ràng trong việc chiếm đoạt hay không để tránh việc nhập nhằng, tùy tiện khi giải quyết án. Bên cạnh đó các ngành tố tụng cần có sự phối hợp hướng dẫn chặt chẽ, chi tiết những hành vi nào được xác định là lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm… để xử lý kịp thời, tránh làm oan. Ngoài ra, các cán bộ tố tụng cũng cần phải được nâng cao trình độ chuyên môn và tránh xa những tiêu cực gây dư luận không tốt khi làm án. Đồng thời, cũng cần có biện pháp xử lý nghiêm, thỏa đáng, không xuề xòa cho nhau khi làm sai.

Luật sư TRẦN CÔNG LY TAO,
Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM

HOÀNG YẾN--PLO

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn