Chủ nhật, Ngày 17/01/2021
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 8.529.126
Tổng số Thành viên: 29
Số người đang xem:  23

Giải thích pháp luật và cơ sở để giải thích pháp luật

Đăng ngày: 04/12/2012 10:42
Giải thích pháp luật và cơ sở để giải thích pháp luật
Theo vibonline.com,vn
Vấn đề GTPL ở Việt Nam đã được đề cập tới, nhưng còn nhiều ý kiến tranh luận và chưa được giải quyết triệt để. Chẳng hạn, Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản QPPL chỉ đề cập tới việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), còn các văn bản khác thì chưa có quy định. Trong Dự thảo Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 có dự kiến là cơ quan ban hành văn bản nào thì có nhiệm vụ, quyền hạn giải thích văn bản của mình đã ban hành, nhưng rồi lại không thực hiện…

1. Giải thích pháp luật là gì, ai và khi nào phải giải thích pháp luật?

Pháp luật thực định ở Việt Nam chủ yếu được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật (QPPL). Để có được QPPL (quy tắc xử sự chung) những người làm công tác xây dựng pháp luật phải nghiên cứu, tổng kết từ rất nhiều cách xử sự cụ thể khác nhau rồi khái quát hoá, tạo ra cách xử sự chung sao cho phù hợp với đa số. Còn khi thực hiện và áp dụng pháp luật thì phải làm ngược lại, tức là từ quy tắc xử sự chung, phải cá biệt hoá để tạo ra quy tắc xử sự cụ thể cho trường hợp cụ thể. Nói cách khác, vụ việc cần phải giải quyết trên cơ sở luật pháp thì có tính chất đơn nhất, muốn quy cái đơn nhất vào cái phổ biến, cái chung, cần phải có sự phán đoán, giải thích. Vì thế các tổ chức, cá nhân khi thực hiện pháp luật phải “giải thích luật pháp trong việc vận dụng vào từng trường hợp cá biệt”[1] một cách đúng đắn, chính xác, phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất. Giải thích pháp luật (GTPL) là nhu cầu thiết yếu, thường xuyên của tất cả các tổ chức và cá nhân trong xã hội, đặc biệt là đối với các cơ quan, các nhà chức trách trong quá trình áp dụng pháp luật.

Vấn đề GTPL ở Việt Nam đã được đề cập tới, nhưng còn nhiều ý kiến tranh luận và chưa được giải quyết triệt để. Chẳng hạn, Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản QPPL chỉ đề cập tới việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), còn các văn bản khác thì chưa có quy định. Trong Dự thảo Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 có dự kiến là cơ quan ban hành văn bản nào thì có nhiệm vụ, quyền hạn giải thích văn bản của mình đã ban hành, nhưng rồi lại không thực hiện…

Chính những bất cập của hoạt động GTPL hiện nay là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tranh cãi về tính hợp pháp của Nghị quyết số 23 của Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố Đà Nẵng[2]. Để xem xét tính hợp pháp hay không hợp pháp của Nghị quyết số 23  phải căn cứ Hiến pháp, Luật Cư trú, Luật Tổ chức HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND) để giải thích và áp dụng vào trường hợp này để giải quyết. Chắc chắn chính quyền Đà Nẵng, Bộ Tư pháp, UBTVQH và nhiều tổ chức cá nhân khác đều đã đọc các văn bản trên, nhưng giải thích thì hiện mỗi nơi đang một kiểu. Thẩm quyền giải thích các văn bản trên (giải thích chính thức, có giá trị pháp lý) thuộc UBTVQH. Song UBTVQH chỉ giải thích khi có đề nghị, còn những người dân quan tâm đến vấn đề này lại không có thẩm quyền đề nghị UBTVQH giải thích. Vì thế, vụ việc trên đang có vướng mắc cả về thẩm quyền, động cơ, căn cứ, thủ tục để giải quyết.

Từ thực tiễn này, chúng tôi xin bàn thêm về hoạt động GTPL, nhằm góp phần làm cho pháp luật Việt Nam được nhận thức và thực hiện đúng, chính xác, đạt hiệu quả cao hơn.

Trước tiên, cần phải hiểu GTPL là gì, nó được tổ chức cá nhân nào tiến hành và khi nào thì phải GTPL? Có khá nhiều quan điểm khác nhau về việc GTPL. Quan điểm thứ nhất theo hướng từ trên xuống, tức là, khi pháp luật có chỗ viết chưa rõ ràng, khó hiểu, thì cần được giải thích cho dễ hiểu. Điều này giống như việc các nhà nghiên cứu viết sách, bình luận để giải thích luật. Ví dụ, có tác giả đã viết cuốn Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, trong đó giải thích những từ ngữ khó hiểu hoặc hiểu không thống nhất, như quy định "phạm tội có tính chất côn đồ", như thế nào là tính chất côn đồ. Tương tự như vậy, việc giáo viên các cơ sở đào tạo luật giải thích cho sinh viên hiểu một số điều luật trong các văn bản QPPL khác nhau cũng là một cách GTPL. Còn đối với những người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhiều khi phải diễn đạt lại một số câu, chữ trong văn bản QPPL bằng ngôn từ thông dụng hơn, dễ hiểu hơn, thậm chí bằng những ví dụ thực tế sinh động cho phù hợp với những người có trình độ hiểu biết pháp luật thấp, đó cũng là GTPL.

Quan điểm thứ hai, ngược lại, theo hướng từ dưới lên, nghĩa là khi cần áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết vụ việc cụ thể, họ buộc phải nhận thức, luận giải quy định pháp luật đó đối với trường hợp cụ thể này và đấy cũng là GTPL. Nói cách khác, đó là việc tạo một sợi dây nối giữa nội dung của quy định pháp luật với vụ việc thực tế. Như vậy, không tồn tại việc GTPL chung chung rồi để đấy, mà việc GTPL phải gắn với vụ việc cụ thể thực tế (không phải vụ việc tưởng tượng). Đến đây, các quan điểm lại chia hai hướng: thứ nhất, việc GTPL đối với từng vụ việc cụ thể chỉ có giá trị áp dụng đối với vụ việc đó, còn các vụ việc tiếp theo khác không được áp dụng các giải thích trước đó mà phải giải thích lại từ đầu; thứ hai, đã giải thích cho vụ việc này rồi có thể áp dụng luôn cho các vụ việc tương tự sau này mà không cần phải giải thích lại. Đây cũng chính là việc chấp nhận hay không chấp nhận án lệ.

Chúng tôi ủng hộ quan điểm thứ hai. Vì rõ ràng, nếu GTPL chung chung rồi để đấy thì chẳng giải quyết được vấn đề, GTPL phải gắn với vụ việc cụ thể thực tế thì mới có giá trị.

Ở Việt Nam, cơ quan ban hành pháp luật thường tách biệt với cơ quan áp dụng pháp luật. Trong khi đó, người áp dụng pháp luật mới là người cần phải đọc luật, hiểu luật hơn để giải quyết các vụ việc cụ thể. Song pháp luật hiện hành quy định chỉ có Chủ tịch nước, UBTVQH, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và đại biểu Quốc hội mới có quyền đề nghị UBTVQH giải thích luật, pháp lệnh. Trong vấn đề xem xét Nghị quyết số 23 của HĐND Đà Nẵng có trái luật không, có thể nói, các tổ chức và cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giải thích luật nói trên không có động lực, hay sức ép để yêu cầu giải thích. Người dân Đà Nẵng càng không cần, bởi Nghị quyết 23 phù hợp với lợi ích của họ, họ sẽ không phải chia sẻ điều kiện phúc lợi xã hội tốt cho những người sẽ đến nhập cư. Chính quyền Đà Nẵng cũng sẽ được lòng dân hơn. Chỉ những người dân có ý định nhập cư vào Đà Nẵng mà chưa được nhập thì mới chịu thiệt. Họ lại đang cư trú rời rạc ở nhiều địa phương khác nhau, yếu thế. Nhưng họ là những người có nhu cầu giải thích Nghị quyết số 23. Và rất khó để họ yêu cầu các tổ chức và cá nhân có thẩm quyền đề nghị UBTVQH giải thích.

Pháp luật còn quy định một số cơ quan nhà nước có quyền giám sát, kiểm tra và quyền xử lý đối với các văn bản pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật, song không quy định cơ quan, cá nhân nào có thẩm quyền tuyên bố (phán quyết) về tính hợp pháp hay không hợp pháp của một văn bản pháp luật. Chẳng hạn, Cục Kiểm tra văn bản QPPL của Bộ Tư pháp cho rằng, Nghị quyết số 23 nói trên là trái pháp luật, nhưng HĐND thành phố Đà Nẵng lại cho là không trái. Vậy trong trường hợp này, cơ quan nào có quyền kết luận là Nghị quyết 23 trái hay không trái pháp luật để các cơ quan có thẩm quyền đình chỉ, hủy bỏ hoặc công nhận nó?

Như vậy, khi áp dụng pháp luật nếu gặp trường hợp luật đã quy định trực tiếp, thì rất thuận lợi cho việc áp dụng, nhưng nếu gặp trường hợp luật không quy định, hoặc ngôn ngữ sử dụng trong văn bản không rõ ràng, thì chủ thể áp dụng pháp luật gặp rất nhiều khó khăn. Nếu tự giải thích theo ý mình thì sợ không đúng với ý của chủ thể đã ban hành văn bản. Nếu không giải thích thì không giải quyết được vụ việc, lại phải gửi công văn đề nghị các chủ thể có thẩm quyền yêu cầu giải thích lên cơ quan có thẩm quyền giải thích văn bản đó hoặc cơ quan ban hành văn bản để nhờ giải thích. Cơ chế GTPL như vậy khiến cho việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc gặp nhiều khó khăn, vừa làm chậm việc giải quyết vụ việc, vừa gây quá tải cho UBTVQH (cơ quan có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh) hoặc cho cơ quan ban hành, vì lúc này, cơ quan ban hành đã chuyển sang làm việc khác, phải lục lại hồ sơ để trả lời yêu cầu của các chủ thể áp dụng pháp luật. Đồng thời, người áp dụng pháp luật trở nên không chủ động, sang tạo trong áp dụng pháp luật. Đó cũng là những lý do làm cho luật được ban hành khá nhiều, nhưng chậm và ít đi vào cuộc sống. Một hệ lụy đáng sợ nữa là nguyên tắc phân công, phối hợp trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có nguy cơ bị phá vỡ.

Chưa kể đến việc một số cơ quan ban hành pháp luật hoạt động không thường xuyên, lâm thời, hoặc đã bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập vào cơ quan khác. Chẳng hạn, Quốc hội mỗi khóa làm việc 5 năm rồi tự giải thể để thành lập Quốc hội mới, Bộ Thương mại bây giờ không còn tồn tại, UBND tỉnh Hà Tây bây giờ cũng không còn. Vậy các văn bản do các cơ quan này ban hành nếu vẫn còn hiệu lực để áp dụng thì ai sẽ là người giải thích? Lại có trường hợp cơ quan ban hành không trực tiếp soạn thảo văn bản. Ví dụ như ông A là chuyên viên của bộ B được giao nhiệm vụ soạn thảo một nghị định. Đến lúc cần giải thích nghị định đó thì gửi công văn cho Chính phủ, cho bộ B, hay cho ông A? Đúng luật thì sẽ phải hỏi Chính phủ, nhưng chắc chắn là Chính phủ trả lời không chính xác bằng bộ B, bằng ông A.

Theo quy định của pháp luật, tòa án là cơ quan xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, làm nhiệm vụ xác định sự thật của vụ án. Theo chúng tôi, điều này chưa đủ, vì từ lúc xác định được sự thật của vụ án đến lúc ra được bản án không đơn giản. Hội đồng xét xử phải tìm được đúng điều luật, giải thích điều luật đó cho phù hợp với vụ việc trên cơ sở đó ra bản án. Nếu Hội đồng xét xử tìm được nhiều điều luật có nội dung khác nhau cùng nói về vụ việc thì lại phải giải thích điều nào là phù hợp hơn, điều nào không. Nếu Hội đồng xét xử không tìm được điều luật nào nói về vụ việc thì phải áp dụng pháp luật tương tự. Tại sao lại áp dụng pháp luật tương tự đối với trường hợp đó, tương tự theo QPPL hay tương tự theo pháp luật cũng cần phải giải thích. Nói chung, hoạt động GTPL tại tòa án là rất quan trọng nhưng pháp luật Việt Nam lại hầu như chưa nhắc đến. Từ những phân tích trên, có thể thấy nhu cầu bức thiết về việc chuyển chức năng GTPL từ cơ quan ban hành pháp luật sang cho tòa án. Để cho tòa án thực sự chính danh khi GTPL, không rơi vào tình trạng phải làm mà không được công nhận là đã làm.

2. Khi cần giải thích pháp luật, người ta dựa vào đâu để giải thích?

Hiện nay đang tồn tại ba quan điểm cơ bản về vấn đề dựa vào đâu để GTPL: (i) dựa vào ngôn ngữ trong văn bản pháp luật; (ii) dựa vào mục đích của việc ban hành văn bản pháp luật đó; (iii) dựa vào quá trình ban hành văn bản (lịch sử lập pháp).

Quan điểm dựa vào ngôn ngữ thể hiện trong văn bản: Cách này khá đơn giản vì luật nói gì thì cứ giải thích đúng và làm đúng như vậy (giải thích nguyên văn). Việt Nam áp dụng khá triệt để quan điểm này vì nó đơn giản và cũng không cần phải phân tích nhiều. Nhưng cái khó của việc giải thích dựa vào ngôn ngữ lại chính là ngôn ngữ. Luật được biểu đạt dưới dạng ngôn ngữ thành văn, mà ngôn ngữ lại do con người tạo ra, không cố định, nó là một dạng thức “sống” trong xã hội. Nói cách khác, nó thay đổi cùng với sự thay đổi của xã hội. Đối với từng người, từng vùng miền, ngôn ngữ cũng có sự khác biệt, đặc biệt là về từ ngữ. Đương nhiên, ngôn ngữ viết được sử dụng trong văn bản pháp luật là ngôn ngữ khá chuẩn. Nhưng, tiêu chuẩn tiếng Việt lại đang là vấn đề phải bàn. Và, người viết luật cũng có thể sử dụng ngôn ngữ không đúng “chuẩn”; bên cạnh đó, ngôn ngữ có thể thay đổi theo thời gian. Đồng thời, ngày càng có nhiều từ nước ngoài, nhiều thuật ngữ từ tiếng nước ngoài thâm nhập vào ngôn ngữ luật. Do vậy, sẽ xảy ra hiện tượng là, có những quy định (từ ngữ) trong luật, chưa bao giờ xuất hiện tại Việt Nam, thậm chí người dịch cũng không hiểu tường tận về nó, nhưng vẫn đưa vào. Chưa kể là đã dịch thuật thì không bao giờ chính xác được 100%.

Quan điểm thứ hai cho rằng, khi GTPL không nên quá phụ thuộc vào ngôn từ, mà nên chú ý đến ý định (ý chí) của người làm luật. Bởi ngôn ngữ không phải lúc nào cũng biểu đạt được đầy đủ ý chí của nhà làm luật, nên cần phải xem nhà làm luật nghĩ gì và ý định của họ trong trường hợp này là gì. Có thể xảy ra trường hợp là khi nhà làm luật soạn thảo điều luật,   họ không thể diễn đạt chính xác 100% cái mà họ muốn nói, nhưng luật vẫn được ban hành mà không hoàn toàn đúng ý người soạn thảo. Vì vậy, lúc cần giải thích điều luật để áp dụng vào vụ việc thực tế đòi hỏi phải chú ý không chỉ ngôn từ được thể hiện mà cả ý định của nhà làm luật nữa. Chẳng hạn, trong Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định sau: “Những người sau đây có quyền nhận con nuôi: (1) Một người lớn độc thân; (2) Một cặp vợ chồng cùng nhau nhận con nuôi”. Vậy, nếu một cặp nam nữ (người lớn và đều độc thân) chung sống gắn bó lâu dài nhưng không kết hôn thì có được cùng nhau nhận một đứa trẻ làm con nuôi không? Nếu căn cứ theo đúng từ ngữ trong Luật Hôn nhân và Gia đình nêu trên, thì nhiều người sẽ giải thích là không được. Song Tòa án tại Mỹ lại trả lời là được, bởi họ đã giải thích quy định trên như sau: một là, điều luật trên được ban hành từ thế kỷ XIX, khi đó tại Mỹ việc nam nữ chung sống gắn bó lâu dài nhưng không kết hôn chưa phổ biến (thậm chí chưa có), vì vậy mà nhà làm luật đã không tính đến trường hợp này; hai là, Tòa án cho rằng, người viết điều luật trên chỉ muốn loại trừ trường hợp một người đã kết hôn nhận con nuôi mà không có sự đồng ý của người kia.

Với cách giải thích như vậy, vụ việc có thể được viết lại như sau: vào thế kỷ XIX, khi soạn Luật Hôn nhân và Gia đình, nhà làm luật muốn hạn chế trường hợp một người đã có vợ hoặc chồng nhận con nuôi mà không có sự đồng ý của người kia. Nhà làm luật nghĩ rằng, chỉ xảy ra ba trường hợp nhận con nuôi là: 1) Một người lớn độc thân nhận con nuôi; 2) Một người đã có vợ hoặc chồng nhận con nuôi (mà người chồng hoặc vợ kia không nhận); 3) Cả hai vợ chồng cùng nhau nhận con nuôi.

Để ngăn trường hợp thứ 2, nhà làm luật viết điều luật chỉ cho phép trường hợp 1 và 3, nhưng sau hơn 100 năm phát triển, xã hội đã thay đổi, nảy ra trường hợp thứ 4 là 1 cặp chung sống gắn bó lâu dài nhưng không kết hôn lại muốn nhận con nuôi chung. Trường hợp thứ 4 này không rơi vào 1 và 3, vì vậy mà đúng theo ngôn ngữ của luật thì không được nhận. Nhưng theo “ngụ ý” của người viết luật, được Tòa án giải thích (chỉ muốn cấm trường hợp 2) thì lại là phù hợp. Để củng cố lời giải thích của mình, Tòa tiếp tục lập luận như sau: Mục đích quan trọng nhất của luật này là vì lợi ích của những đứa trẻ được nhận làm con nuôi và để có những gia đình hạnh phúc. Mà trường hợp 4 kia không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của đứa trẻ được nhận nuôi. Khi xét những yếu tố khác: hai người chung sống gắn bó, lâu dài (hơn 10 năm), có thu nhập cao và ổn định, Tòa cho rằng, nếu đứa trẻ được nhận làm con nuôi thì sẽ có lợi cho nó hơn là không được nhận. Như vậy, với cách giải thích này, Tòa đã bỏ qua sự cứng nhắc của ngôn ngữ mà chỉ chú ý vào mục đích của luật. Trong pháp luật Việt Nam, mục đích của luật thường được nêu trong những điều đầu tiên của văn bản, nhưng một số trường hợp thì không được nêu, do vậy, có thể tìm hiểu nó thông qua lý do ban hành văn bản hay quy định pháp luật đó.

Từ sự tổng hợp hai quan niệm trên, chúng ta thấy vẫn thiếu, vẫn chưa nhận thức được đúng nội dung thực sự của pháp luật. Làm thế nào để hiểu được chính xác ngôn từ mà nhà làm luật sử dụng? Làm thế nào để hiểu được mục đích của luật? Do vậy, có một căn cứ nữa, và cũng là quan điểm thứ ba, chính là lịch sử lập pháp. Thông thường, quá trình ban hành một văn bản QPPL người ta phải tiến hành rất nhiều khâu với nhiều quy trình khác nhau, thậm chí phải soạn thảo rất nhiều lần mới có được bản dự thảo văn bản cuối cùng được thông qua, như: đưa ra sang kiến về việc cần thiết ban hành văn bản, lập chương trình, lập đề cương chi tiết, thành lập ban soạn thảo, soạn thảo lần 1, lần 2, lần 3…, rồi lấy ý kiến đóng góp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, rồi hoạt động thẩm định, thẩm tra, đánh giá, tờ trình của cơ quan soạn thảo, ý kiến tranh luận tại Quốc hội. Nói chung để có một văn bản QPPL, nhất là các văn bản luật phải tiến hành một quy trình hết sức phức tạp. Do vậy, có thể dựa vào những tư tưởng chỉ đạo, những ý kiến đóng góp, tranh luận, những đánh giá từ hoạt động thẩm định, thẩm tra, tờ trình… về văn bản QPPL đó để nhận thức nội dung, tinh thần của các quy định trong văn bản một cách chính xác, đầy đủ hơn.

Như vậy, có thể căn cứ vào lịch sử lập pháp (quá trình ban hành văn bản pháp luật) để hiểu hơn về nội dung, tinh thần của văn bản pháp luật. Vì vậy, tại một số nước, khi ban hành các văn bản luật, người ta yêu cầu phải biên tập và công bố kèm theo các văn bản, các ý kiến trong quá trình soạn thảo văn bản đó và Tòa án hoặc chủ thể có thẩm quyền giải thích văn bản đó có thể căn cứ vào đó để giải thích. Tại Việt Nam, điều này không được thừa nhận. Tuy vậy, cũng có ý kiến phản đối việc dựa vào lịch sử lập pháp để GTPL. Họ lập luận rằng, các ý kiến được đưa ra trong quá trình soạn thảo, thảo luận văn bản pháp luật cũng thú vị đấy, nhưng nó vô giá trị, vì nếu nó có giá trị thì người ta đã đưa nó vào luật. Trong số các ý kiến đó rất nhiều những ý kiến đã bị bỏ qua. Hơn nữa, nó sẽ gây ra tình trạng “Trong một đám đông, nhìn ra bạn mình”, nghĩa là, trong quá trình chuẩn bị dự thảo văn bản pháp luật có vô số các ý kiến có thể trái chiều nhau, nếu căn cứ vào đó để giải thích luật thì có thể chủ thể giải thích chỉ chọn ra những ý kiến theo hướng họ muốn, điều này khiến cho việc giải thích có thể không khách quan.

Tóm lại, GTPL cần phải được chú trọng hơn ở nước ta, cần phải nghiên cứu để tòa án Việt Nam có thể tham gia GTPL chính thức và muốn giải thích một cách chính xác nội dung, tinh thần các văn bản, các quy định pháp luật cần phải dựa vào nhiều căn cứ khác nhau để giải thích./.

[1] Mác- Ăngghen, toàn tập, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 101.

[2] Nghị quyết 23 của HĐND TP Đà Nẵng được thông qua cuối tháng 12/2011, có hiệu lực trong năm 2012. Trong đó có nội dung "Tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với các trường hợp chỗ ở là nhà thuê, mượn, ở nhờ mà không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án, tiền sự".

            Nguyễn Minh Đức - Trường Đại học Tổng hợp Singapore.

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn