Thứ Năm, Ngày 21/01/2021
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 8.533.991
Tổng số Thành viên: 29
Số người đang xem:  8

Chuyển giá nhìn từ FDI

Đăng ngày: 19/12/2012 16:46
Chuyển giá nhìn từ FDI
Theo doanhnhansaigon.vn
Chuyển giá (CG) là hiện tượng khá phổ biến trên thế giới. Cốt lõi của CG là chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thông qua giá cao khi nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị... và giá thấp khi xuất khẩu.
 

Chuyển giá (CG) là hiện tượng khá phổ biến trên thế giới. Cốt lõi của CG là chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thông qua giá cao khi nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị... và giá thấp khi xuất khẩu. Thực tế, một vài lợi ích của CG không bù đắp được những thiệt hại kinh tế mà CG gây ra cho nước nhận FDI, điển hình là:

Thứ nhất, thất thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Quy mô các khoản thu NSNN này không nhỏ khi các DN FDI chiếm khoảng 20%GDP.

Việt Nam cho phép ưu đãi thuế TNDN đối với FDI, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, ưu đãi tiếp cận đất đai, cho phép chuyển lỗ năm trước sang năm sau. Nhưng không ít DN FDI sau khi tận dụng hết những ưu đãi, đã hoàn vốn đầu tư và có lợi nhuận, đã hoặc là giải thể, hoặc chuyển hướng kinh doanh, hoặc báo lỗ để không nộp thuế TNDN cho các khoản đầu tư lớn.

Thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) của các DN FDI cũng gặp khó khăn khi giá đầu vào cao, giá bán ra (trường hợp xuất khẩu) thấp, hoặc cao nhưng chưa tương xứng với mức giá đầu vào.

Thu NSNN chỉ có lợi trong trường hợp CG từ nhập khẩu. Tuy nhiên, hàng rào thuế nhập khẩu chịu tác động lộ trình giảm thuế theo các cam kết hội nhập và bị hạn chế từ phía cơ quan hoạch định chính sách tài chính và thuế.

Do đó, chống CG chỉ hiệu quả khi gắn với việc cơ cấu lại nguồn thu NSNN theo hướng giảm tỷ trọng thu từ xuất nhập khẩu, đặc biệt là giảm tỷ trọng thu từ nhập khẩu, xuống mức 5-10% tổng thu NSNN.

Thứ hai, CG làm "đội giá” máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đầu vào đồng thời "phá giá” sản phẩm đầu ra, khiến DN FDI bị "thua lỗ”. Không ít trường hợp các DN liên doanh có vốn FDI liên tục báo lỗ (do CG), khiến cho phần vốn góp của phía Việt Nam (chủ yếu là góp vốn bằng quyền sử dụng đất) bị bào mòn, thậm chí mất hẳn.

Không chịu nổi thua lỗ, phía Việt Nam buộc phải nhượng lại phần vốn góp. Động thái này đã biến DN liên doanh thành DN 100% vốn nước ngoài.

CG đối với máy móc, thiết bị của DN FDI, một mặt tạo "giá trị ảo" cho tài sản cố định, tăng tỷ lệ khấu hao tài sản cố định thực, "thổi phồng" phần vốn góp của phía nước ngoài, làm méo mó bức tranh thực tế về vốn FDI (cả thu hút và giải ngân), mặt khác, giá trị của máy móc, thiết bị mới, hiện đại dễ kiểm soát hơn so với giá trị của máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu nên không loại trừ nhà đầu tư FDI "ưu tiên" nhập khẩu máy móc thiết bị cũ, lạc hậu nhằm CG dễ dàng hơn.

Rõ ràng, do tác động của CG mà hai mục tiêu quan trọng nhất trong thu hút FDI là vốn và công nghệ hiện đại đã không thực hiện được, hoặc chỉ thực hiện nửa vời.

CG còn có thể là một trong những nguyên nhân chính làm sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung, sử dụng vốn FDI nói riêng, khiến ICOR của khu vực FDI rất cao, thậm chí cao hơn cả khu vực kinh tế trong nước.

Cùng với đó, do lợi nhuận của nhà đầu tư FDI đã được hiện thực hóa thông qua CG nên các nhà quản lý DN FDI không có động lực nâng cao hiệu quả quản lý, cắt giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động.

Như vậy, mục tiêu quan trọng thứ ba trong thu hút FDI là góp phần nâng cao trình độ quản lý DN cũng khó trở thành hiện thực. Vì vậy, biện pháp quan trọng nhất để chống CG không phải là chỉ trông chờ vào sự kiểm soát giá nhập khẩu của cơ quan hải quan mà tất cả bộ máy liên quan đến FDI phải nắm vững về thị trường giá cả các hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu của DN FDI.

Thứ ba, thị trường trong nước, cả thị trường tư liệu sản xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng, đều phải chịu mức giá cao bất hợp lý do CG. Một mặt, mức giá nhập khẩu cao do CG đã thủ tiêu lợi ích về giá từ hoạt động nhập khẩu, làm cho mặt bằng giá cao giả tạo, gây thiệt hại cho DN và người tiêu dùng Việt Nam và tạo ra những khó khăn mới cho khả năng kiềm chế lạm phát.

Mặt khác, giá nhập khẩu cao do CG còn làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các DN Việt Nam với các DN nước ngoài ở cả thị trường trong nước cũng như thị trường xuất khẩu.

Hơn nữa, DN Việt Nam phải chịu thuế trực thu (thuế TNDN với thuế suất 25%) trong khi DN FDI chủ yếu chịu thuế gián thu (thuế nhập khẩu, thuế GTGT) nên DN Việt Nam càng khó cạnh tranh hơn.

Đối phó với tình trạng này, bên cạnh các biện pháp chống CG trên, Việt Nam phải đầu tư mạnh vào sản xuất thay thế nhập khẩu, đặc biệt là phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.

Thứ tư, đóng góp của các DN FDI vào thương mại xuất khẩu của Việt Nam là không thể phủ nhận, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 150-160% GDP.

Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI tăng nhanh, kim ngạch nhập khẩu cũng tăng nhanh không kém, kết quả là nếu loại trừ yếu tố dầu thô thì khu vực FDI cũng nhập siêu với quy mô lớn, tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam, mà CG là một trong những nguyên nhân.

Cùng với đó, CG còn làm cho thặng dư tài khoản vốn (một phần nhờ dòng vốn FDI vào) trở nên thiếu bền vững, chứa đựng "yếu tố ảo", kéo theo tính thiếu bền vững của cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối. Do đó, các biện pháp chống CG cần đồng bộ với các biện pháp giảm thâm hụt thương mại, thâm hụt cán cân vãng lai, kiểm soát tài khoản vốn, quản lý cán cân thanh toán cũng như quản lý ngoại hối và điều hành chính sách tỷ giá hối đoái.

 

TS. VŨ ĐÌNH ÁNH
| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn