Thứ Bảy, Ngày 16/01/2021
Tìm kiếm nhanh: 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 8.528.463
Tổng số Thành viên: 29
Số người đang xem:  22

Vai trò giám sát tối cao của Quốc hội trong phòng, chống tham nhũng

Đăng ngày: 28/12/2012 08:02
Vai trò giám sát tối cao của Quốc hội trong phòng, chống tham nhũng
Theo phaply.net.vn

1. Giám sát tối cao của Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta được xem là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, với mục đích cơ bản là phòng chống sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Theo đó, có thể nói giám sát tối cao có vai trò trong phòng, chống tham nhũng – một biểu hiện của sự tha hóa quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, vai trò phòng, chống tham nhũng của giám sát tối cao của Quốc hội không giống với các thiết chế khác trong bộ máy nhà nước ta.

185 Vai trò giám sát tối cao của Quốc hội trong phòng, chống tham nhũng

Vai trò giám sát tối cao của Quốc hội cần được phát huy tối đa để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Trước hết, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội có tác dụng trên phạm vi quốc gia, ở tầm vĩ mô. Vì giám sát tối cao của Quốc hội theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện bởi toàn thể đại biểu Quốc hội tại phiên họp toàn thể của Quốc hội (điều 1). Hậu quả pháp lý của giám sát tối cao của Quốc hội được thể hiện trong Nghị quyết của kỳ họp Quốc hội, trong Nghị quyết giám sát chuyên đề hay trong Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn. Nội dung của các Nghị quyết này thường chỉ ra những thiếu sót, tồn tại và nguyên nhân của những thiếu sót, tồn tại đó và đề ra các giải pháp khắc phục ở tầm vĩ mô, tầm phải sửa đổi chính sách, pháp luật. Ví dụ như Nghị quyết xem xét báo cáo của Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XI. Hay Nghị quyết của Quốc hội về công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI. Các Nghị quyết này có vai trò như là những biện pháp phòng, chống tham nhũng ở tầm vĩ mô, có ý nghĩa chỉ đạo cuộc đấu tranh này.

Hai là, trong mối quan hệ với phòng, chống tham nhũng. Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định chế tài của giám sát tối cao là: bỏ phiếu tín nhiệm đối với các cá nhân thuộc đối tượng giám sát của Quốc hội và thành lập Ủy ban điều tra lâm thời để điều tra một vấn đề cần thiết. Cả hai chế tài này đều được Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định, nhưng hơn 10 năm nay chưa được áp dụng. Vì thế xét về phương diện đấu tranh phòng, chống tham nhũng đối với một cá nhân cụ thể, giám sát tối cao của Quốc hội chưa có tác dụng phòng ngừa riêng một cách thiết thực. Mặc dầu, đây là những chế tài có tác dụng phòng, chống tham nhũng một cách mạnh mẽ, thậm chí còn mạnh hơn cả chế tài hình sự trong đấu tranh chống tội phạm tham nhũng bằng các thiết chế tư pháp và thủ tục tư pháp. Bởi đối tượng chịu tác động của những chế tài này là những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, họ có cương vị cao trong bộ máy nhà nước. Tác động đến những người này có tác dụng phòng ngừa rộng lớn đến cả một ngành, một lĩnh vực trong việc nâng cao trách nhiệm, năng lực và ý thức chính trị. Việc áp dụng các chế tài này được thực hiện theo thủ tục hoạt động Nghị trường vừa công khai, vừa dân chủ nên có tác dụng rộng lớn trong dư luận xã hội, lấy được lòng tin của nhân dân trong cuộc đấu tranh này. Đồng thời, các chế tài này là chế tài mang tính chất truy cứu trách nhiệm chính trị cùng với các chế tài khác như chế tài Hình sự, Hành chính, Dân sự… tạo thành một hệ thống các chế tài bao quát được đầy đủ các hình thức, các cách thức tác động đối với các đối tượng khác nhau.

Ba là, giám sát tối cao của Quốc hội là hoạt động theo thủ tục nghị trường. Tức là một thủ tục bao gồm các hoạt động và xem xét của một tập thể 500 đại biểu. Xem bao gồm việc đọc, nghe, nghiên cứu, khảo sát các loại báo cáo và xét bao gồm việc phân tích, đánh giá, bình luận, phản biện, kết luận kiến nghị của các đại biểu tại các phiên họp toàn thể đại biểu Quốc hội. Vì thế, việc xem xét trong hoạt động giám sát của Quốc hội mang tính chất công khai, minh bạch và dân chủ. Ở nước ta, các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội thường được truyền hình trực tiếp. Trong mối quan hệ với phòng, chống tham nhũng, giám sát tối cao của Quốc hội có tác dụng củng cố lòng tin của nhân dân, nâng cao ý thức công dân trong phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, thông qua hoạt động giám sát công khai, truyền hình trực tiếp, nhân dân có dịp kiểm tra, đánh giá năng lực, trình độ của đại biểu Quốc hội trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Như vậy, giám sát tối cao của Quốc hội có vai trò rất lớn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng cả trên bình diện vĩ mô rộng lớn (sửa đổi bổ sung chính sách, pháp luật, bịt kín các lỗ hổng sinh ra tham nhũng) đến cả bình diện truy cứu trách nhiệm chính trị đối với cá nhân có thẩm quyền cao trong bộ máy nhà nước, góp phần phòng ngừa riêng có hiệu quả tích cực.

2. Tuy giám sát tối cao của Quốc hội có vai trò to lớn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng như đã nói ở trên, nhưng thời gian qua phát huy vai trò đó còn có hạn chế.

Trước hết, đó là nhận thức chưa thật sự đầy đủ về vai trò của giám sát. Quan niệm giám sát là để tăng cường pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước chứ không phải giám sát là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực nhà nước thực sự là quyền lực của nhân dân. Quan niệm đó nhấn mạnh giám sát là để tăng cường sự thống nhất của quyền lực nhà nước (pháp chế là phải thống nhất). Vì thế, tình trạng nể nang, né tránh, va chạm vẫn diễn ra trong các hoạt động giám sát tối cao. Coi trọng tính thống nhất hơn là tính phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.

Hai là, đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả là phải chỉ ra được trách nhiệm chính trị đến cùng thuộc về cá nhân hay tổ chức nào? Thực tiễn giám sát tối cao của Quốc hội, nhất là giám sát tối cao bằng phương thức chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội, thời gian qua nhiều lúc chưa đi đến cùng trách nhiệm nên hiệu lực và hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chưa cao; tham nhũng tiêu cực có điều kiện tái diễn, lặp lại. Nếu như Vinashin giám sát đến cùng thì Vinalines có lẽ không xảy ra trong thời gian gầy đây.

Ba là, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nói chung về hoạt động giám sát nói riêng chưa có điều luật nào trực tiếp quy định về trách nhiệm phòng, chống tham nhũng của Quốc hội cũng như các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội trong mối quan hệ với đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần có thủ tục và quy trình khách với các thủ tục và quy trình hoạt động của giám sát thông thường. Chế tài trong giám sát với mục đích phòng, chống tham nhũng cũng cần quy định cụ thể hơn, mạnh mẽ hơn.

3. Từ vai trò của giám sát tối cao của Quốc hội và từ thực tiễn hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội trong phòng, chống tham nhũng hiện nay, xin có một số kiến nghị sau đây:

Một là, tham nhũng là một căn bệnh gắn liền với sự tồn tại của nhà nước. Vì vậy, trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội nói chung và trong việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội nói riêng, pháp luật cần phải quy định nhiệm vụ và quyền hạn phòng, chống tham nhũng của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Những quy định này vừa phải được lồng ghép vào việc thực hiện những nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội, vừa phải có quy định riêng mang tính đặc thù trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Hai là, nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của Quốc hội trong phòng, chống tham nhũng. Với vị trí và vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất, Quốc hội có nhiều ưu thế hơn so với các thiết chế khác trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cần phát huy lợi thế đó, để trong nội dung hoạt động của mình có những định hướng hoạt động về phòng, chống tham nhũng, nhất là các hoạt động giám sát tối cao tại nghị trường. Giám sát trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Do đó, giám sát phải hướng đến mục tiêu phòng, chống tham nhũng.

Ba là, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội đã có quy định: Khi xét thấy cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc của đại biểu Quốc hội trình Quốc hội quyết định thành lập của Ủy ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định (khoản 1 điều 12). Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (điều 13).

Hai quy định nói trên có thể xem là hai chế tài giám sát tối cao của Quốc hội. Trong mối quan hệ với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, hai chế tài này cần được phát huy. Bởi hai chế tài này là hai chế tài đặc thù, chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền áp dụng nhằm truy cứu trách nhiệm chính trị đối với những cá nhân do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Để có điều kiện sử dụng hai chế tài này cần phải cụ thể hóa thêm các trường hợp cần thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra và nên chăng thay việc bỏ phiếu tín nhiệm bằng bỏ phiếu bất tín nhiệm với những quy định cụ thể trường hợp nào thì bỏ phiếu bất tín nhiệm.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng bằng hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội có nhiều ý nghĩa, đòi hỏi các đại biểu Quốc hội phải nâng cao nhận thức, bản lĩnh và kỹ năng hoạt động nghị trường.

GS. TS. Trần Ngọc Đường – Chuyên gia cao cấp của Quốc hội

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn